Hotline 028 7300 9922

Tái Tạo tuyến vũ sau phẫu thuật đoạn nhũ

TÌM HIỂU VỀ ĐOẠN NHŨ K:

Theo thống kê đã công bố gần đây: K vú ở Việt Nam đã xếp trên K cổ tử cung trong các loai K ở phụ nữ.
Người bệnh chấn thương về hình thể dẫn tới những chấn thương tình cảm và mặc cảm trong cuộc sống.
Phẫu thuật tái tạo lại tuyến vú sau đoạt nhũ là phẫu thuật phổ biến, gần như 100% ở Âu, Mỹ. Ở Việt Nam số bệnh nhân được tái tạo còn rất nhỏ, do:
  • Tâm lý lo ngại bệnh K.
  • Loại phẫu thuật này còn chưa được các Phẫu Thuật Viên tạo hình áp dụng rộng rãi.
hieubietungthuvu Tái tạo tuyến vú sau phẫu thuật đoạn nhũ do K bằng vạt da – cơ lưng rộng kết hợp túi độn là một Công trình nghiên cứu do Thạc sĩ- Bác sĩ Nguyễn Văn Thắng – Tốt nghiệp chuyên khoa phẫu thuật tạo hình và thẩm mỹ tại Cộng Hòa Pháp – đã thực hiện thành công và được trình bày tại HỘI NGHỊ KHOA HỌC HỘI PTTM TPHCM Tháng 11 năm 2009. Hình bệnh nhân bị đoạn nhũ do K

Phương pháp phẫu thuật

  • Vạt da – cơ lưng rộng kết hợp túi độn. Phương pháp tái tạo bằng vạt da cơ – lưng rộng kết hợp túi độn (túi độn gel hoặc nước biển).
  • Có kết quả thẩm mỹ rất khả quan: được đánh giá bằng sự hài lòng của bệnh nhân
  • Ca phẫu thuật không kéo dài quá 4h.
  • Độ thẩm mỹ cao

Quá trình phẫu thuật
Gồm 2 thì:
Thì 1: lấy vạt

  • Đo vẽ: Bệnh nhân được đo vẽ ở tư thế đứng trước khi mổ. Các mốc giải phẫu như lằn dưới vú, chiều cao, chiều rộng thì căn cứ vào ngực lành bên đối diện để xác định.
    • Tư thế bệnh nhân: nằm nghiêng 90 độ, trên bàn mổ có giá đỡ tay.
    • Bộc lộ toàn bộ 1/2 lưng nơi lấy vạt và phần ngực nơi có sẹo mổ cũ.
    • Tư thế lấy vạt
  • 123
    1234

  • Vạt da hình thoi có chiều dài từ 14 cm đến 18 cm, chiều rộng vạt da từ 8cm đến 10cm.
  • Kích thước vạt tùy thuộc vào diện tích da cần tạo hình là nhiều hay ít, ngoài ra còn phụ thuộc độ trun giãn của da vùng lưng đáp ứng khả năng khâu đóng trực tiếp vùng lấy vạt.
  • Hướng của vạt da có thể là: gần nằm ngang, chéo, chính hay gần như dọc theo bờ trước cơ lưng rộng, điều này phụ thuộc vào chiều của đường thẹo vùng ngực có sẵn sao cho tạo được góc xoay tương ứng mà vạt không bị xoắn vặn.
  • Diện tích lấy cơ lưng rộng: càng rộng càng tốt đủ che phủ vùng cơ ngực tương ứng đã bị cắt đi trong PT Patey trước đó.
  • 12345

  • Sau khi đã phẫu tích được vạt da và vạt cơ, chúng tôi cắt bỏ chỗ bám tận của cơ vào xương cánh tay.
  • Bó mạch thần kinh cơ được phẫu tích càng cao càng tốt để tạo bản lề xoay tối đa cho vạt khi di chuyển ra phía ngực.
  • Cắt sẹo cũ ở ngực, đưa vạt ra phía trước qua một đường hầm dưới da.
  • Khâu đóng cho lấy vạt ba lớp, đặt một ống dẫn lưu kín.
  • Toàn bộ thì này thường mất khoảng 2 giờ phẫu thuật.
  • 132

Thì 2: Chuyển vạt và tạo hình tuyến vú

  • Lật bệnh nhân nằm ngửa, hai tay dang ngang, bộc lộ cả bên ngực đối diện.
  • Bóc tách da trong phần diện tích tuyến vú đã được định vị trước đó, sao cho tương xứng với các mốc giải phẫu hình thể vú bên kia.
  • Trải rộng lớp cơ lưng to dưới da. Khâu cố định vào da giúp tăng độ dầy.
  • Khâu vạt da vào hai bờ sẹo.
  • Đặt túi độn: thường chúng tôi ưu tiên dùng túi nước biển để có thể điều chỉnh thể tích. Lượng thanh huyết bơm vào là bao nhiêu thì phụ thuộc vào:
  • So sánh với thể tích ngực bên đối diện
  • Độ căng tối đa của vạt mà không ảnh hưởng đến sức sống của vạt.Thường thể tích huyết thanh được sử dụng khoảng từ 200-280cc. Đôi khi chúng tôi sử dụng túi độn gel silicone nếu đã ước lượng được khá tương đối thể tích cần bổ sung
  • Cắt chỉ lưng và ngực ngày thứ bảy.

Tạo hình phức hợp quầng vú, núm vú

  • Thường được thực hiện sau 6 tháng.
  • Chất liệu lấy từ quầng, núm vú bên đối diện hoặc ghép da dầy lấy từ vùng sinh dục để có mầu sắc tương đồng.
  • Thay túi to hơn, thay túi nước biển bằng túi gel thường sau 1 năm khi da đã giãn tốt. Sửa sẹo xấu.
  • Bơm mỡ tự thân vào vùng da mỏng, không có cơ che phủ tạo độ dầy che phủ túi.
  • Thu gọn ngực sa trễ bên đối diện nếu to và sệ hơn bên tạo hình.
  • Đặt thêm túi bên đối diện nếu nhỏ hơn bên tạo hình

Ưu điểm của phương pháp: không khó thực hiện. Phần cơ khá rộng có thể che phủ toàn bộ long ngực trong những trường hợp mất cơ ngực, màu sắc, và tính chat da lưng gần giống da ngực.
Nhược điểm của phương pháp: Sẹo vùng lưng thường giãn hoặc xấu, vẫn phải có túi độn với những biến chứng kèm theo như vỏ xơ, thủng vỡ, nhiễm khuẩn.
Vạt da là vạt được sử dụng nhiều trong tạo hình:

  • Vạt cơ rộng, mỏng.
  • Bán kính xoay lớn.
  • Mạch nuôi lớn, hằng định: type V theo Mathes và Nahai, nhánh chính đủ nuôi toàn bộ cơ.
  • Diện tích lất da đa dạng: nằm ngang, chéo hay dọc bờ trước cơ… mà vùng lấy da có thể đóng kín trực tiếp không cần ghép da.
  • thi-lay-vat

Hãy để lại tin nhắn

Chúng tôi sẽ tư vấn miễn phí cho bạn